Hôm qua, mưa đầu mùa đổ xuống xứ đạo Bình An.
Cơn mưa đến lẹ như một người khách không báo trước. Mới đó trời còn nắng chang chang, mấy tàu lá dừa sau nhà xứ đứng im thin thít, con chó vàng nằm thè lưỡi dưới gốc me. Vậy mà chỉ một lát, mây đen đã ùn lên từ phía cánh đồng, gió quật nghiêng hàng cau trước nhà thờ, rồi nước trời trút xuống trắng xóa.
Mưa gõ rào rào trên mái tôn phòng giáo lý. Nước từ hai máng xối tuôn ra như hai dòng thác nhỏ. Sân nhà thờ lát gạch tàu loáng nước. Tượng Đức Mẹ trong hang đá đứng giữa màn mưa, hai bàn tay mở ra, khuôn mặt hiền lành như đang đón lấy hết những nhọc nhằn của xóm đạo.
Nhưng mưa chỉ kéo dài chừng nửa giờ.
Rồi cũng như lúc đến, nó bất ngờ dứt.
Sáng hôm nay, bầu trời trong đến lạ. Cây cối được gột rửa, lá nào lá nấy xanh non, còn đọng những giọt nước nhỏ như hạt chuỗi pha lê. Mấy bụi huệ trước tượng Thánh Giuse cúi đầu vì nặng nước. Từ ruộng lúa xa xa, một lớp hơi mỏng bay lên, lơ lửng trên những bờ đê ngoằn ngoèo.
Thầy Phêrô An đứng dưới chân tháp chuông, ngước nhìn trời.
Đây là năm đầu tiên thầy giúp xứ tại Bình An. Trước khi về đây, thầy vẫn tưởng đời sống mục vụ chắc sẽ giống những điều mình đã học: trẻ em thì ngoan ngoãn học giáo lý, người lớn thì siêng năng đi lễ, còn người phục vụ chỉ cần nhiệt thành, đúng giờ, nói lời ngay thẳng là đâu đó vào nề nếp.
Nhưng Bình An không giống những trang sách thầy từng đọc.
Xứ đạo nằm nép bên một nhánh sông nhỏ, sau lưng là đồng lúa, trước mặt là con đường đất đỏ dẫn ra chợ huyện. Nhà nào khá thì có mái tôn, nhà nghèo còn lợp lá. Mùa nắng bụi bay mờ hàng rào. Mùa mưa đường lầy, trẻ con đi lễ phải xách dép, đến cổng nhà thờ mới rửa chân dưới vòi nước rồi mang vào.
Người trong xứ đạo hiền, nhưng cái hiền của người nghèo có khi lẫn với nhẫn nhịn, có khi lẫn với cam chịu. Đám trẻ đi học về còn phải chăn vịt, cắt cỏ, giữ em. Có đứa nghỉ học để theo cha làm hồ. Có đứa thuộc kinh Tin Kính làu làu mà cả tháng không đến nhà thờ. Có đứa tới sinh hoạt thiếu nhi chỉ vì sau giờ học được phát bánh.
Còn có một đứa mà ai nhắc đến cũng lắc đầu.
Tên nó là Gioan Baotixita Lợi.
Nhưng trong xóm chẳng ai gọi đủ tên thánh tên đời. Người ta gọi nó là Lợi “ba búa”.
Biệt danh ấy chẳng ai nhớ bắt đầu từ hồi nào. Có người nói vì nó làm việc gì cũng mạnh tay, đóng một cây đinh mà đập tới ba búa, búa nào búa nấy muốn lún luôn miếng ván. Có người nói vì nó có ba cái tài phá phách: trèo cây, bắn chim và gây lộn. Cũng có người bảo chẳng cần lý do gì hết, trẻ con trong xóm đặt tên nhau vậy thôi, rồi cái tên bám riết lấy người, như bùn đất bám chân.
Lợi mười bốn tuổi, cao nghều, da đen, tóc cháy nắng. Cặp mắt nó sáng nhưng thường nhìn người khác bằng vẻ bất cần. Mỗi khi cười, hai hàm răng trắng nổi bật trên khuôn mặt sạm nắng, khiến người ta vừa muốn giận vừa không nỡ giận lâu.
Nó ít đi lễ. Học giáo lý thì bữa có bữa không. Có lần đang giờ kinh, nó bắt con cào cào cột chỉ vào chân, thả bay vòng vòng làm mấy đứa nhỏ ré lên. Lần khác, nó trèo lên gác chuông, kéo chuông giữa trưa khiến cả xóm tưởng có người chết. Mấy bà hội Mân Côi chạy tới, thấy nó đang đu trên dây chuông, người nào cũng đập ngực:
– Lạy Chúa tôi! Thằng nhỏ này chắc quỷ nhập!
Lợi tụt xuống, đứng nép bên cột, cười hề hề:
– Con thử coi chuông còn tốt hông mà.
Cha sở Giuse Tâm nghe chuyện chỉ thở dài.
Cha Tâm đã ngoài sáu mươi. Tóc cha bạc gần hết, dáng người gầy, lúc đi hơi khom vì bệnh đau lưng. Cha ít lớn tiếng. Khi giận, cha thường im lặng, mà cái im của cha làm người ta thấy ngượng hơn bị rầy.
Hôm ấy, cha gọi Lợi vào nhà xứ.
– Con kéo chuông làm chi?
– Dạ… con thử.
– Thử cái gì?
– Thử coi người ta có chạy tới thiệt hông.
Cha nhìn nó hồi lâu.
– Rồi con thấy sao?
– Dạ, chạy tới thiệt.
– Vậy con vui không?
Lợi gãi đầu.
– Dạ… cũng vui.
Cha Tâm khẽ gật.
– Mai con qua lau gác chuông cho cha. Vui thì phải trả cái giá của niềm vui.
Lợi không đáp. Nó cúi mặt, nhưng khóe miệng còn nhếch lên.
Ngày hôm sau nó không tới.
Thầy An nghe chuyện, trong lòng bực. Thầy nghĩ một đứa nhỏ như vậy nếu không uốn ngay, lớn lên sẽ thành người không biết sợ ai. Thầy lập một danh sách học sinh cần quan tâm, viết tên Lợi ở đầu, rồi dưới tên nó ghi mấy chữ: “Thiếu kỷ luật – chống đối – cần theo dõi.”
Cha Tâm nhìn thấy, chỉ nói:
– Thầy coi chừng mình theo dõi lỗi của người ta kỹ quá rồi không còn thấy người ta nữa.
Câu nói ấy làm An hơi chạm tự ái.
Thầy không cãi, nhưng nghĩ cha già rồi nên hiền quá. Trẻ con bây giờ khác xưa. Không nghiêm thì nó leo lên đầu.
Buổi lễ tổng kết giáo lý năm ấy được tổ chức vào một sáng Chúa nhật cuối tháng Năm. Mưa đêm làm sân nhà thờ còn ướt. Mấy cây phượng bên trường tiểu học kế bên nở đỏ, hoa rụng xuống mương nước, trôi lững lờ.
Hơn hai trăm thiếu nhi xếp hàng trước tiền đường. Áo trắng, khăn quàng đủ màu. Các em nhỏ ngành Ấu quấn khăn xanh lá, đứng không yên, cứ quay đầu nhìn nhau. Mấy em Nghĩa sĩ lớn hơn cố làm ra vẻ nghiêm trang.
Thầy An đứng trên bục, cầm micro.
– Các em chỉnh đốn hàng ngũ!
Tiếng nói vang qua hai cái loa cũ, rè rè rồi bay ra tận cánh đồng.
Ở cuối hàng, Lợi đứng dựa cột, không đeo khăn. Nó tới trễ, áo còn dính bùn ở gấu. An nhìn thấy, cơn bực trong lòng bốc lên.
– Em Lợi, bước ra ngoài!
Mấy đứa nhỏ quay lại nhìn. Lợi đứng thẳng lên, mặt lạnh.
– Em đi trễ, không đồng phục, không khăn quàng. Em chưa được tham dự lễ tổng kết.
Không khí bỗng im đi.
Lợi không nói. Nó bước ra, đi ngang các hàng thiếu nhi. Có đứa cười khúc khích. Có đứa ghé tai bạn thì thầm: “Lợi ba búa bị đuổi kìa.”
Ra đến cổng, Lợi cúi xuống nhặt một cục đất, bóp nát trong tay rồi quăng xuống mương.
Thầy An nhìn theo. Một thoáng, thầy thấy bờ vai gầy của nó co lại. Nhưng chương trình sắp bắt đầu, thầy quay lên, tự nhủ rằng kỷ luật phải được giữ.
Sau lễ, thầy đi tìm Lợi để nói thêm, nhưng không thấy.
Buổi trưa, bà Tư bán bánh bò ghé nhà xứ, nói:
– Thầy kiếm thằng Lợi hả? Nó chạy về ruộng rồi. Má nó bệnh, sáng nay nó phải đi xịt thuốc thuê cho người ta, làm xong mới chạy qua. Chắc vậy nên trễ.
An ngẩn người.
– Sao nó không nói?
Bà Tư cười buồn:
– Nó mà biết nói mấy chuyện đó thì đâu còn là thằng Lợi. Cha nó chết hồi nó tám tuổi. Má nó đau yếu hoài. Nó đi làm mướn, ai cho nhiêu lấy nhiêu. Có bữa không ăn sáng mà miệng vẫn nói như pháo.
Cái nắng trưa từ ngoài sân hắt vào hành lang nhà xứ, trắng đến chói mắt.
Thầy An thấy dòng chữ mình ghi trong sổ: “Thiếu kỷ luật – chống đối – cần theo dõi.” Những chữ ấy bỗng trở nên cứng ngắc và lạnh lùng. Nó đúng, nhưng chỉ đúng một phần. Mà một phần sự thật đôi khi lại gần với bất công.
Chiều hôm đó, thầy đạp xe ra đồng tìm Lợi.
Con đường làng sau mưa lầy lội. Bánh xe dính bùn, quay nặng. Hai bên đường, nước còn đọng dưới chân cỏ. Mấy con cò trắng đứng trên ruộng mới cấy, hễ nghe tiếng xe là bay là đà sang bờ bên kia.
Nhà Lợi nằm cuối một con kinh nhỏ. Gọi là nhà, nhưng chỉ có hai gian vách lá, mái tôn chắp vá. Trước sân phơi mấy bó rơm. Một chiếc ghe cũ úp bên bờ, đáy đã mục.
Má Lợi đang nằm võng, ho sù sụ.
– Thầy kiếm thằng Lợi hả? Nó ngoài ruộng sau.
An đi vòng ra.
Lợi đang vác một bao phân gần bằng nửa người. Nó bước chậm trên bờ ruộng, hai chân lún xuống bùn. Đến cuối bờ, nó đặt bao xuống, thở hổn hển rồi xé miệng bao, bốc từng nắm phân rải lên luống lúa.
An đứng nhìn một hồi.
Trong sân nhà thờ, Lợi là đứa phá phách. Ngoài cánh đồng, nó lại như một người lớn bị nhét vào thân hình trẻ con. Cái lưng mỏng dưới chiếc áo cũ ướt đẫm mồ hôi. Hai bàn chân trần bám chặt lấy đất.
– Lợi!
Nó quay lại. Thấy thầy, nét mặt nó khựng đi, rồi trở nên lạnh.
– Thầy ra đây chi?
– Thầy kiếm em.
– Kiếm để phạt nữa hả?
Câu hỏi sắc như lưỡi cỏ cắt vào chân.
An bước xuống bờ ruộng.
– Thầy muốn xin lỗi.
Lợi cười nhạt.
– Thầy có làm gì đâu mà xin lỗi. Thầy làm đúng mà. Con đi trễ.
– Thầy làm đúng một nửa. Còn một nửa thầy không biết.
– Thì con có biểu thầy biết đâu.
An im lặng. Gió từ cánh đồng thổi qua, mang theo mùi bùn, mùi phân và mùi lúa non. Xa xa, tháp chuông nhà thờ nhô lên sau hàng cây, nhỏ như một ngón tay chỉ lên trời.
– Sao em không nói má em bệnh?
– Nói để người ta thương hại hả?
– Không. Nói để người ta hiểu.
Lợi bốc một nắm phân, rải mạnh xuống ruộng.
– Người ta có muốn hiểu đâu. Người ta thấy con quậy thì nói con hư. Thấy con nghỉ lễ thì nói con khô đạo. Thấy áo con dơ thì nói con không tôn trọng nhà Chúa. Vậy cho lẹ.
An nghe cổ họng mình nghèn nghẹn.
– Hôm nay thầy muốn hiểu.
– Trễ rồi.
– Trễ thì bắt đầu trễ.
Lợi nhìn thầy. Ánh mắt nó dao động một chút rồi quay đi.
An cúi xuống, xắn quần.
– Đưa thầy một cái thau.
– Thầy biết rải phân hông?
– Chưa.
– Vậy xuống rồi giẫm lúa chết hết.
– Em chỉ thầy.
Lợi cười, lần này cái cười không còn gai góc.
– Thôi, thầy đứng trên bờ đi. Áo trắng mà dính bùn, mai mấy bà nói con làm hư thầy nữa.
An vẫn bước xuống ruộng. Bùn ngập tới mắt cá chân, trơn đến mức thầy suýt té. Lợi chụp lấy cánh tay thầy.
– Thấy chưa! Con nói rồi mà.
Hai người nhìn nhau, rồi cùng bật cười.
Buổi chiều ấy, họ rải hết hai bao phân.
Khi mặt trời xuống thấp, cả hai ngồi trên bờ ruộng. Má Lợi đem ra một bình trà loãng. Bà rót vào hai cái ly sứ sứt miệng.
An hỏi:
– Em có bao giờ đọc dụ ngôn người con hoang đàng chưa?
Lợi nhún vai.
– Có nghe. Thằng con bỏ nhà đi, rồi quay về, cha nó làm thịt bò ăn mừng.
– Em thấy ai trong chuyện đó đáng thương nhất?
– Thằng anh.
An hơi ngạc nhiên.
– Sao?
– Nó ở nhà làm cực thấy mồ, vậy mà không ai làm dê cho nó ăn. Còn thằng kia phá của rồi về được đãi tiệc.
An mỉm cười.
– Em nói cũng có lý.
– Chớ sao.
– Nhưng có khi cả hai người con đều ở xa cha. Một người xa bằng đôi chân. Một người xa bằng lòng mình.
Lợi ngồi im.
– Còn người cha?
– Người cha đứng chờ.
– Chờ hoài hả thầy?
– Chờ cho đến khi con mình về. Có khi Thiên Chúa cũng chờ người ta vậy.
Lợi bứt một cọng cỏ, xoắn quanh ngón tay.
– Chúa có chờ người như con không?
– Nhất là người như em.
– Con có gì đặc biệt?
– Em tưởng người ta phải đặc biệt mới được Chúa thương sao?
Lợi cúi đầu. Cánh đồng trước mặt đã chuyển sang màu tím nhạt. Tiếng chuông nhà thờ ngân ba hồi báo giờ kinh chiều. Âm thanh đi qua ruộng lúa, chạm vào mặt nước, rồi lan ra xa, nghe vừa gần vừa buồn.
Lợi nói nhỏ:
– Hồi cha con còn sống, ổng hay dắt con đi lễ chiều. Ổng kéo chuông giỏi lắm. Khi ổng chết, con ghét tiếng chuông.
– Vì sao?
– Nó làm con nhớ.
An không nói gì nữa.
Có những lúc người ta không cần một lời giải đáp. Một người ngồi bên cạnh đủ lâu đã là một thứ trả lời.
Từ hôm đó, Lợi bắt đầu ghé nhà thờ thường hơn.
Nó chưa ngoan ngay. Một người đã quen chống lại mọi thứ không thể chỉ sau một buổi chiều mà hóa thành thiên thần. Nó vẫn nói trống không. Vẫn chọc mấy đứa nhỏ. Vẫn có khi bỏ giờ giáo lý để đi bắt cá.
Nhưng An không còn gọi nó là học sinh cá biệt.
Thầy giao cho nó sửa ghế, quét sân, khiêng loa, kéo dây điện. Việc gì cần sức, Lợi làm nhanh gấp đôi người khác. Có khi làm hư, nhưng ít nhất nó chịu làm.
Một hôm, phòng giáo lý chuẩn bị diễn hoạt cảnh người Samari nhân hậu. Đứa đóng vai người bị nạn đau bụng, nghỉ đột xuất. An gọi Lợi.
– Em đóng thay.
– Con mà diễn gì.
– Em chỉ cần nằm bên đường.
– Vậy được.
Nhưng đến khi diễn, Lợi không chịu nằm yên. Đứa đóng vai thầy tư tế đi ngang, làm bộ không thấy. Lợi bất ngờ ngồi dậy la:
– Cha ơi, cứu con với!
Cả sân cười ồ.
Đến người Samari cúi xuống băng bó, Lợi lại hỏi lớn:
– Ông có lấy tiền không?
Đám trẻ cười nghiêng ngả. An đứng sau phông màn cũng phải bịt miệng.
Cha Tâm ngồi hàng đầu, cười đến chảy nước mắt.
Sau buổi diễn, cha gọi Lợi lại.
– Con diễn sai hết bản văn.
Lợi cúi đầu.
– Dạ, con xin lỗi cha.
– Nhưng con làm người ta nhớ câu chuyện.
Cha xoa đầu nó.
– Tin Mừng mà người ta chỉ nghe rồi quên thì chưa chắc đã vào lòng. Con làm sao để từ nay người ta gặp con là nhớ phải thương người bị bỏ bên đường.
Lợi ngẩng lên, mặt rạng rỡ.
Từ đó, nó được giao phụ trách nhóm nhỏ trong đội bác ái thiếu nhi. Mỗi tuần, nhóm đi thăm người già, dọn nhà cho người neo đơn, đem gạo đến vài gia đình khó khăn.
Ban đầu Lợi không thích đọc kinh. Nó chỉ thích làm việc. Đến nhà bà Sáu mù, trong khi mấy đứa khác đứng đọc kinh lớn tiếng, nó lẳng lặng sửa cái cửa bị xệ. Đến nhà ông Năm liệt chân, nó không biết nói lời an ủi, chỉ ngồi chẻ củi hết một buổi.
An nhận ra Lợi không thiếu lòng thương. Nó chỉ chưa biết lòng thương ấy cũng là một lời kinh.
Một chiều cuối tháng Bảy, sau giờ sinh hoạt, một đứa nhỏ chạy tới báo bé Thủy bị té bên con kinh. An và Lợi chạy qua.
Thủy tám tuổi, chân bị miếng tôn cắt một đường sâu, máu chảy ướt cả ống quần. Mấy đứa đứng quanh khóc. Lợi chen vào, xé ngay vạt áo mình buộc phía trên vết thương.
– Thầy lấy xe! Chở nó lên trạm xá lẹ!
Giọng nó dứt khoát đến mức An làm theo không kịp suy nghĩ.
Suốt quãng đường, Lợi ngồi sau giữ bé Thủy. Con bé đau quá, cắn vào cánh tay nó. Lợi nhăn mặt nhưng không rút tay.
– Cắn đi. Đừng khóc. Tới nơi rồi.
Sau khi bác sĩ khâu xong, An mới thấy vết răng trên tay Lợi rướm máu.
– Em đau không?
– Có gì đâu.
– Áo em rách rồi.
– Áo cũ mà.
Thủy nằm trên giường bệnh, nhìn Lợi bằng đôi mắt còn đẫm nước.
– Anh Lợi, em xin lỗi.
– Lỗi gì?
– Hôm trước em nói anh là đồ ba búa.
Lợi cười.
– Thì anh ba búa thiệt.
Tối ấy, An vào nhà nguyện một mình.
Ngọn đèn đỏ trước Nhà Tạm cháy nhỏ. Ngoài kia mưa lất phất. Tiếng côn trùng rả rích trong vườn. Thầy quỳ xuống, nhớ đến bàn tay Lợi ôm đứa bé bị thương, nhớ đến vạt áo nó xé ra không tiếc.
Thầy chợt hiểu mình đã từng muốn đem Chúa đến cho Lợi, nhưng có khi Chúa đã ở trong nó từ lâu, trong một hình thức thô ráp, lem luốc, chưa được ai nhận ra.
Người truyền giáo không phải là người mang Thiên Chúa đến một nơi Thiên Chúa chưa từng hiện diện. Có khi công việc của họ chỉ là chỉ cho người khác thấy rằng Người đã đứng đó rồi, âm thầm như một hạt lúa nằm trong đất.
Đầu tháng Tám, cha Tâm thông báo sẽ có ngày tĩnh tâm và xưng tội cho thiếu nhi.
Lợi nghe xong thì lảng đi.
An tìm nó sau nhà thờ, thấy nó ngồi trên bậc đá, lấy dao khắc một cây thánh giá nhỏ.
– Em không xưng tội sao?
– Con không biết xưng.
– Thì nói những gì em nhớ.
– Nhiều quá.
– Chúa không đếm tội như người ta đếm nợ.
– Con có chuyện không dám nói.
– Em nói với cha giải tội, không phải nói với thầy.
Lợi im lặng lâu rồi hỏi:
– Nếu con xưng mà sau này con còn phạm lại thì sao?
– Thì lại đứng dậy.
– Đứng dậy hoài hả?
– Bao nhiêu lần cũng được.
– Chúa không chán sao?
An nhìn cây thánh giá trong tay nó.
– Nếu Chúa dễ chán con người, Người đã không lên đó.
Chiều tĩnh tâm, Lợi ngồi cuối nhà thờ. Các em khác lần lượt vào tòa giải tội rồi ra quỳ đọc việc đền tội. Nó cứ ngồi yên, hai tay đan chặt.
Đến gần tối, nhà thờ chỉ còn vài người. Những vệt nắng cuối ngày xuyên qua cửa kính, rơi xuống nền gạch thành những mảng vàng đỏ.
Cha Tâm bước ra khỏi tòa, thấy Lợi.
– Con chưa về sao?
– Dạ chưa.
– Con chờ ai?
– Con chờ… con hết sợ.
Cha ngồi xuống bên cạnh.
– Sợ thì cứ vào. Không cần đợi hết sợ.
Lợi cắn môi.
– Con không nhớ kinh xưng tội.
– Cha nhớ giùm con.
– Con không biết bắt đầu.
– Con bắt đầu bằng câu thật nhất trong lòng con.
Một lát sau, Lợi quỳ trong tòa giải tội.Không ai nghe được nó nói gì. Chỉ thấy đôi vai nó rung lên. Cha Tâm ngồi lặng, thỉnh thoảng nói một câu rất nhỏ.
Khi bước ra, mắt Lợi đỏ. Nó quỳ xuống hàng ghế cuối, không đọc kinh, chỉ cúi đầu.
An ngồi cách đó vài hàng ghế. Thầy không đến gần.
Ngoài sân, chuông chiều bắt đầu ngân. Tiếng chuông lần này không buồn như trước. Hoặc có lẽ vẫn là tiếng chuông cũ, chỉ lòng người đã khác.
Mấy tháng sau, cha Tâm trở bệnh.
Một cơn đau tim nhẹ khiến cha phải nằm bệnh viện gần hai tuần. Giáo xứ thiếu người điều hành. An bận rộn từ sáng đến tối. Lễ đọc kinh, dạy giáo lý, thăm bệnh, lo giấy tờ, sửa mái phòng học bị dột, việc nào cũng tới tay.
Lợi tự nhiên trở thành người chạy việc.
Nó gom đám thiếu nhi lại, phân công quét nhà thờ. Nó kéo chuông đúng giờ. Nó dặn mấy đứa nhỏ không được chạy trên cung thánh. Có đứa nhắc:
– Hồi trước anh còn trèo lên bàn thờ nữa mà.
Lợi trợn mắt:
– Hồi trước là hồi trước. Bây giờ tao biểu đừng chạy là đừng chạy.
An nghe, vừa buồn cười vừa cảm động.
Ngày cha Tâm trở về, cả xứ đứng kín sân đón. Lợi núp sau cột, không chen lên. Cha nhìn thấy, gọi:
– Ba búa đâu rồi?
Mọi người cười.
Lợi bước ra.
Cha đưa cho nó một sợi dây chuông mới.
– Dây cũ mục rồi. Con thay giùm cha.
Lợi cầm sợi dây, mắt bỗng đỏ.
– Sao cha giao con?
– Vì con biết kéo chuông.
– Hồi đó con kéo bậy.
– Người biết mình từng kéo bậy mới quý giờ kéo đúng.
Sáng Chúa nhật kế tiếp, Lợi lên gác chuông.
Trời còn mờ. Xóm đạo nằm im trong sương sớm. Những mái nhà thấp thoáng sau hàng dừa. Ngoài đồng, vài ngọn đèn pin của người đi thăm lúa chập chờn.
Lợi nắm sợi dây, kéo một nhịp.
Quả chuông lớn rung lên.
Boong…
Âm thanh trầm, đầy, lan qua mái nhà thờ, vượt khỏi hàng cây, đi ra cánh đồng. Mấy con chim ngủ trên cây me giật mình bay lên. Một cánh cửa trong xóm mở ra. Rồi một cánh cửa khác. Người ta bắt đầu thắp đèn, sửa soạn đi lễ.
Lợi kéo tiếp.
Boong…
Nó nhớ cha mình. Nhớ bàn tay chai sần từng đặt lên vai nó. Nhớ những buổi hai cha con đi trong sương, cha kéo chuông còn nó ngồi dưới chân tháp đợi.
Nước mắt Lợi chảy xuống.
Nhưng lần này nó không ghét tiếng chuông nữa.
Dưới sân, thầy An ngước nhìn lên. Qua ô cửa nhỏ của tháp chuông, thầy thấy bóng Lợi chập chờn theo nhịp dây kéo. Cậu bé ngày nào bị đuổi khỏi hàng ngũ vì đến trễ, giờ đang gọi cả xóm đạo thức dậy.
Sau Thánh lễ, Lợi không về ngay. Nó đi với An ra cánh đồng.
Lúa đã gần chín. Gió thổi thành từng đợt, làm mặt ruộng gợn lên như sóng. Những bông lúa nặng hạt cúi xuống, vàng óng trong nắng sớm.
Lợi bước xuống ruộng, bốc một nắm đất, bóp trong tay.
– Thầy coi, vụ này chắc trúng.
– Sao em biết?
– Lúa chắc hạt. Đất đủ nước. Với bữa trước rải phân đúng lúc.
An cười.
– Em rành rồi.
– Con làm từ nhỏ mà.
Hai người đứng im.
Một đàn cò từ phía con kinh bay qua. Bóng chúng lướt trên đồng lúa, thoáng một cái rồi mất.
Lợi nói:
– Thầy, con tính học hết lớp chín rồi nghỉ, đi làm.
– Vì má em?
– Dạ. Nhưng con cũng muốn học giáo lý thêm. Sau này con làm huynh trưởng được hông?
An nhìn nó.
– Sao lại không?
– Con từng quậy dữ lắm.
– Thánh Phêrô từng chối Chúa.
– Nhưng ổng là thánh.
– Trước khi là thánh, ông cũng là người yếu đuối.
Lợi suy nghĩ một hồi rồi cười:
– Vậy chắc con còn hy vọng.
– Người còn biết hy vọng thì chưa bao giờ ở xa Chúa.
Từ phía nhà thờ, tiếng chuông cuối lễ vọng đến. Âm thanh qua một quãng đồng rộng, đến chỗ hai người chỉ còn nhẹ như gió.
Lợi vốc đất lên, để đất chảy qua kẽ tay.
An chợt nhớ tới dụ ngôn người gieo giống. Có hạt rơi bên vệ đường, có hạt rơi trên đá, có hạt rơi vào bụi gai, cũng có hạt rơi vào đất tốt. Ngày trước, thầy đã vội xem Lợi là mảnh đất đầy gai góc. Nhưng có lẽ đất nào cũng có phần tốt, miễn là người gieo đủ kiên nhẫn cúi xuống, nhặt đá, nhổ gai và chờ đợi.
Mà người gieo cũng phải để cho đất dạy lại mình.
Lợi phủi tay, vác bao phân lên vai.
– Thầy về trước đi. Con làm hết đám này rồi về.
– Thầy phụ.
– Thầy rải còn vụng lắm.
– Vậy em chỉ lại.
Lợi lắc đầu, cười hề hề.
Hai người bước xuống ruộng.
Bùn mềm ôm lấy bàn chân. Nắng sớm rải xuống những bông lúa một màu vàng ấm. Phía xa, cây thánh giá trên nóc nhà thờ đứng giữa nền trời xanh, nhỏ bé mà rõ ràng.
Không có phép lạ nào làm cánh đồng chín trong một đêm.
Lúa lớn lên nhờ mưa, nhờ nắng, nhờ đất, nhờ bàn tay người chăm bón. Đức tin của một con người cũng vậy. Nó có thể khởi đầu bằng một câu xin lỗi, một buổi chiều ngồi cạnh nhau trên bờ ruộng, một vạt áo xé ra băng cho người bị thương, một lần quỳ xuống mà không biết phải nói gì.
Tin Mừng đôi khi không được rao bằng lời lớn.
Nó được rao khi một người chịu bước xuống bùn với một người khác.
Nó được rao khi kẻ bị gọi là hư hỏng được trao một công việc để tin rằng mình còn hữu ích.
Nó được rao khi người ta không chỉ hỏi một đứa trẻ đã phạm lỗi gì, mà còn hỏi nó đã đau ở đâu.
Và có khi, giữa một xóm đạo nghèo, Thiên Chúa bắt đầu công việc của Người bằng một cậu bé tên Lợi, từng kéo chuông để phá làng phá xóm, rồi một ngày lại dùng chính đôi tay ấy gọi mọi người đến nhà Chúa.
Tiếng chuông sáng vẫn đi qua cánh đồng.
Đi qua những mái nhà nghèo.
Đi qua con kinh đục phù sa.
Đi qua những đời người còn dang dở.
Nó không hỏi ai đã từng lầm lỗi.
Nó chỉ gọi.
Và từ nơi nào đó, những cánh cửa lần lượt mở ra.
PHẠM QUỲNH ANH








