Lời Chúa trong Thánh Lễ

Bánh Mì Sáng | Thứ Ba 28.04 | Th. Phêrô Chanel – Th. Luy Grignion Montfort

Mùa Phục Sinh | Phụng vụ năm A

Thánh Phêrô Chanel
Linh mục Tử đạo (1803-1841)

Là một linh mục trẻ làm hồi sinh một giáo xứ trong một quận “tồi tệ” bằng phương pháp đơn giản là tận tụy chăm sóc bệnh nhân. Muốn làm nhà truyền giáo nên lúc 28 tuổi, ngài gia nhập Dòng Đức Mẹ (Society of Mary), còn gọi là Bảy Thánh Lập Dòng Tôi Tớ Đức Mẹ (seven Marists). Vì vâng lời, ngài dạy học ở chủng viện 5 năm. Sau đó, ngài làm bề trên dòng, đi miền Tây Oceania và được bầu làm đại diện (vicariate). Đức giám mục theo các nhà truyền giáo, để Peter Chanel một tu sĩ khác ở lại đảo Futuna ở New Hebrides, hứa sẽ trở lại 6 tháng sau. Nhưng thời gian đó kéo dài đến 5 năm sau.

Trong khi đó, ngài phải “vật lộn” với việc trau dồi ngôn ngữ mới, khó sống với dân đánh cá voi, dân buôn bán và dân bản xứ. Dù thành công một chút, ngài vẫn trầm lặng, hiền dịu, kiên nhẫn và can đảm. Một số dân bản xứ được rửa tội, một ít người được hướng dẫn. Khi con trai của một thủ lĩnh (chieftain) xin vào đạo, thủ lĩnh càng khủng bố dữ dội. LM Chanel bị đánh đến chết, thi thể ngài bị cắt ra từng khúc. Sau 2 năm ngài qua đời, cả đảo Oceania theo Công giáo và ngày nay vẫn vậy. Thánh Peter Chanel là thánh tử đạo đầu tiên và là thánh bổn mạng của đảo này.

Thom. Aq. TRẦM THIÊN THU
(Chuyển ngữ từ BeliefNet.com, Saints.sqpn.com, AmericanCatholic.org, Catholic.org)

Thánh Luy Grignion Montfort
Linh mục (1673 – 1716)

Luy-Maria sinh tại Bretagne, thuộc Montfort–la-Cane, năm 1673. Trước tiên ngài học tại trường các tu sĩ Dòng Tên ở Rennes, trước khi vào Đại Chủng viện Xuân Bích, để chuẩn bị cho việc đào tạo làm linh mục tại Paris. Được thụ phong linh mục năm 1700, ngài dấn thân truyền giáo tại vùng nông thôn thuộc miền Tây và miền Trung nước Pháp. Ngài nói: “Tôi muốn dạy giáo lý cho các người nông dân”. Khi vào làng và lưu lại ở đó, đôi khi bị dân làng xua đuổi, nhưng ngài cũng được tiếp nhận và nhiều người lắng nghe. Ngài dành nhiều thời giờ để ban bí tích hoà giải. Không bao giờ ngài dùng bữa mà không mời một người nào cùng ăn và tự mình phục vụ kẻ ấy.

Tại Poitiers, Cha Luy-Maria tổ chức lại bệnh viện thành phố và thành lập Dòng Nữ tử khôn ngoan năm 1703. Năm 1706 để ghi nhận sự hoạt động truyền giáo phi thường của Cha Luy-Maria, Đức Giáo Hoàng Clément XI phong ngài làm “Thừa sai tông tòa tại Pháp”. Vinh dự này giúp ngài thành lập Tu hội Đức Mẹ Thừa Sai là tu hội các nhà truyền giáo ở nông thôn mà ngài đã từng muốn thành lập từ năm 1705.

Cha Luy-Maria qua đời lúc bốn mươi ba tuổi do bởi kiệt sức và các khổ chế. Ngài được Đức Giáo Hoàng Piô XII phong thánh năm 1947.

Ngày nay, sứ điệp của thánh Grignon de Montfort được tiếp tục thực hiện qua các môn đệ của ngài là: những tu sĩ Dòng Montfort, các Nữ tử khôn ngoan và các Anh em Dòng thánh Gabriel. Đặc biệt, các tu sĩ này luôn chuyên cần giảng dạy để gợi cho mọi người nhớ đến trọng tâm của ơn đoàn sủng nơi thánh Luy-Maria là: người Kitô hữu phải được nuôi dưỡng bởi lẽ khôn ngoan đích thực và biết tìm kiếm đời mình nhờ sự nâng đỡ của Đức Trinh nữ Maria.

https://tgpsaigon.net/bai-viet/ngay-28-04-thanh-luy-maria-montfortlinh-muc

Mời nghe các bài đọc trong thánh lễ hôm nay:
(Martha đọc)

Nghe Bài đọc Tại đây 

Bài đọc  Cv 11,19-26
Họ rao giảng Tin Mừng Chúa Giêsu cho cả người Hy-Lạp.Lời Chúa trong sách Công Vụ Tông Đồ.
Hồi ấy, những người phải tản mác vì cuộc bách hại xảy ra nhân vụ ông Tê-pha-nô, đi đến tận miền Phê-ni-xi, đảo Sýp và thành An-ti-ô-khi-a. Họ không rao giảng lời Chúa cho ai ngoài người Do-thái. Nhưng trong nhóm, có mấy người gốc Sýp và Ky-rê-nê; những người này, khi đến An-ti-ô-khi-a, đã giảng cho cả người Hy-lạp nữa, loan Tin Mừng Chúa Giê-su cho họ. Vì có bàn tay Chúa ở với họ, nên một số đông đã tin và trở lại cùng Chúa. Tin ấy đến tai Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem, nên người ta cử ông Ba-na-ba đi An-ti-ô-khi-a. Khi tới nơi và thấy ơn Thiên Chúa như vậy, ông Ba-na-ba mừng rỡ và khuyên nhủ ai nấy bền lòng gắn bó cùng Chúa, vì ông là người tốt, đầy ơn Thánh Thần và lòng tin. Và đã có thêm một đám rất đông theo Chúa. Ông Ba-na-ba trẩy đi Tác-xô tìm ông Sao-lô. Tìm được rồi, ông đưa ông Sao-lô đến An-ti-ô-khi-a. Hai ông cùng làm việc trong Hội Thánh ấy suốt một năm và giảng dạy cho rất nhiều người. Chính tại An-ti-ô-khi-a mà lần đầu tiên các môn đệ được gọi là Ki-tô hữu. Đó là lời Chúa.

Nghe Bài Tin Mừng Tại đây 

Tin Mừng   Ga 10,22-30
Tôi và Cha tôi là một.Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Gioan.
Khi ấy, ở Giê-ru-sa-lem, người ta đang mừng lễ Cung Hiến Đền Thờ. Bấy giờ là mùa đông. Đức Giê-su đi đi lại lại trong Đền Thờ, tại hành lang Sa-lô-mon. Người Do-thái vây quanh Đức Giê-su và nói: “Ông còn để lòng trí chúng tôi phải thắc mắc cho đến bao giờ? Nếu ông là Đấng Ki-tô, thì xin nói công khai cho chúng tôi biết.” Đức Giê-su đáp: “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông không tin. Những việc tôi làm nhân danh Cha tôi, những việc đó làm chứng cho tôi. Nhưng các ông không tin, vì các ông không thuộc về đoàn chiên của tôi. Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi. Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Tôi và Chúa Cha là một.” Đó là lời Chúa.

Ecoutez la lecture ici
“Mes brebis écoutent ma voix ; moi, je les connais, et elles me suivent. Je leur donne la vie éternelle : jamais elles ne périront, et personne ne les arrachera de ma main. Mon Père, qui me les a données, est plus grand que tout, et personne ne peut les arracher de la main du Père. Le Père et moi, nous sommes UN. (Jn 10, 22-30)

Bài liên quan

Back to top button