Giáo lý Phúc Âm Chúa Nhật III Thường Niên năm B | Lm Peter Trần Thế Tuyên

181

CHÚA NHẬT III QUANH NĂM

Sách Ngôn Sứ Giôna 3.1-5,10;
Thư Thứ I của Thánh Phaolô gửi tín hữu Côrintô 7.29-31
và Phúc Âm Thánh Matcô 1.14-20

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matcô:
Sau khi Gioan bị bắt, Chúa Giêsu sang xứ Galilêa, rao giảng Tin Mừng nước Thiên Chúa, Người nói: “Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm”. Ðang lúc đi dọc theo bờ biển Galilêa, Người thấy Simon và em là Anrê đang thả lưới xuống biển, vì các ông là những người đánh cá. Chúa Giêsu bảo các ông: “Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những kẻ chài lưới người”. Lập tức các ông bỏ lưới theo Người. Ði xa hơn một chút nữa, Người thấy Giacôbê con ông Giêbêđê và em là Gioan đang xếp lưới trong thuyền, Người liền gọi các ông. Hai ông bỏ cha là Giêbêđê ở lại trên thuyền cùng với các người làm công, và đi theo Người. Đó là Lời Chúa.

Diễn ý: 

Tin Mừng Chúa đi rao giảng:
Sám hối ăn năn! Đã mãn thời kỳ!
Trông xem đã thấy những gì,
Nước Chúa gần đến còn chi mà chờ.

Chúa đi tảng bộ theo bờ,
Biển Ga-li-lê sương mờ buổi sáng.
Ngư phủ nhọc nhằn ngao ngán,
Vất vả suốt đêm chả đáng đồng tiền.

Tiếng Chúa gọi thật nhân hiền:
“Thôi thì bỏ lưới bỏ thuyền theo Ta!”
Bốn người theo Chúa bôn ba:
Tin Mừng rao giảng: Quê Cha Nước Trời.

Tất cả đều được kêu mời,
Làm tông đồ Chúa cuộc đời bình an.
Rằng ơn cứu độ Chúa ban,
Cần được loan báo tràn lan gian trần. Amen.

I. Sứ điệp Phúc Âm:

Chúa Giêsu xuất hiện rao giảng Tin Mừng: “Thời kỳ đã mãn và Nước Thiên Chúa đã đến gần’.

Đấng Cứu Thế đã đến, đang ở giữa muôn dân! Không còn chờ đợi hay tìm kiếm gì khác. Chuyện phải làm bây giờ là sám hối và tin Lời Ngài giảng.

Đấng Cứu Thế mà muôn dân trông đợi đã đến. Ngài rao giảng tin mừng sám hối. Ngài kêu gọi các tông đồ đầu tiên, những người sẽ tiếp tục sự nghiệp rao giảng Tin Mừng của Ngài.

II. Dẫn giải có liên quan Phúc Âm: 

Vài nét về đời sống của 4 môn đệ đầu tiên:
Simon Phêrô – Anrê – Giacôbê và Gioan.
(Dựa trên Bách Khoa Tự Điển Wikipedia)

Theo Mt 4,18 thì 4 môn đệ đầu tiên nầy gồm: Phêrô là em ông Anrê. Hai ông làm nghề đánh cá ở Caphanaum cạnh hồ Galilê. Hai người khác là con ông Dêbêđê: Ông Giacôbê và người em là ông Gioan. Cả 4 ông đều là ngư phủ hành nghề dọc theo biển hồ Galilê.

Simon (tên gọi trong tiếng Do Thái) đổi sang Phêrô (tiếng Hy Lạp) hay Kêpha (Árập) – Phêrô hay Kêpha có nghĩa là Đá. Ông sinh tại Bethsaida, một thị trấn nhỏ thuộc miền Galilê, trên bờ biển Tiberia, Palestine. Ông đã có một người mẹ vợ chính thức được đề cập đến trong Kinh thánh và được Giêsu chữa lành một cách kỳ diệu (Mt 8.14-15, Lc 4:38, Mc 1.29-31). Theo Clement thành Alexandria thì Phêrô đã lập gia đình, có những đứa con, vợ của ông đã chịu đau khổ và chịu tử vì đạo.

Theo một số truyền thuyết có ít nhất từ thế kỷ VI thì con gái của Phêrô là Petronilla. Tại Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô có một bàn thờ của St. Petronilla được vẽ bởi Guercino, 1623, Cristofari, 1730. Giáo hoàng Clement I viết: “Phêrô và Philip là cha của những đứa trẻ; Khi thánh Phêrô nhìn thấy vợ của mình bị dẫn đi tử hình, ông đã rất hoan hỉ bởi vì lệnh đòi và sự trở về nhà cha của bà, bà là nguồn động viên, an ủi rất lớn và ông nói với bà: “Hãy nhớ tới Thiên Chúa”. Đó là sự kết hợp của những vị thánh và họ là một sự sắp đặt hoàn hảo hướng về những gì thánh thiện nhất”. Ông đã gặp Chúa Giêsu qua sự giới thiệu của Anrê. Ông đến gặp Chúa Giêsu và được Người đặt tên là Phêrô (Ga 1.42). Phúc âm Luca cho chúng ta biết thêm: Ông trở thành môn đệ của Chúa Giê-su sau khi Chúa cho ông đánh được một mẻ lưới đầy cá (Lc 5,4:11). Theo các sách Phúc âm (Mc 1,16-18; Mt 4,18-22; Lc 5,1-11; Ga), ông thuộc vào số những người đầu tiên được Ðức Giêsu kêu gọi làm môn đệ (cùng với Anrê, Gioan và Giacôbê). Trong danh sách của 12 tông đồ, ông luôn được xếp hàng đầu (Mc 3,16-19; Mt 10,2-4; Lc 6,14-16; xc. Cv 1,13). Tên của ông luôn được nhấn mạnh (Mt. 10:2)

III. Thực hành Phúc Âm:      

Những người đi trước.

Chúa Giêsu, người sáng lập Kitô giáo. Từ một mình Ngài với một nhóm nhỏ 12 người. Giờ đây danh hiệu Ngài trổi vượt trên mọi danh hiệu. Đang có hai tỉ người và sẽ có nhiều hơn nữa tin nhận Chúa Giêsu và theo đạo Chúa Giêsu. Bốn tông đồ đầu tiên: Phêrô, Anrê, Giacôbê và Gioan… rồi sau đó thêm 8 người nữa cho đủ số 12. Bây giờ trên thế giới có hơn 5 ngàn Giám Mục Công giáo, có 420 ngàn linh mục Công giáo, có 800 ngàn nữ tu sĩ và gần 250 ngàn nam tu sĩ trên toàn thế giới theo thống kê năm 2020.

Giáo Hội Việt Nam, năm 1533 thừa sai đầu tiên đặt chân tới và truyền đạo. Đạo chưa lớn mạnh đủ thì thời bắt đạo ập đến giết chết hàng trăm ngàn người, nhưng bây giờ cũng đã có 8 triệu giáo dân được phân chia trong 27 địa phận, được chăm sóc bởi 45 Giám Mục và hơn 3 ngàn linh mục Dòng Triều. Có dịp đến miền sông nước Nam Việt Nam, ai cũng phải nhìn nhận, không những đất đai trù phú mà tương lai truyền giáo cũng thật đầy hứa hẹn. Tất cả những họ đạo lớn và trù phú đều do những nhà truyền giáo hay do ông bà tổ tiên của chúng ta chạy trốn bắt đạo từ miền Trung và miền Bắc vào. Những địa danh Công giáo lâu đời như Cái Nhum, Cái Mơn, Mặc Bắc… đều được các nhà truyền giáo thiết lập. Những họ đạo như Trà Lồng, Kinh Đức Bà hay Hòa Thành tận Cà Mau… đều là những địa điểm trong vùng sâu vùng xa, nơi tốt để trốn mà giữ đạo, nơi quan quân triều đình không dòm ngó tới. Tất cả do người đi trước, do ông bà tổ tiên chúng ta hay do những linh mục thừa sai đã tìm ra và xây dựng họ đạo và nhà thờ. Họ là những tiên phuông trong việc mở mang Nước Chúa.

Nhìn thấy những địa danh Công giáo trù phú và sầm uất nầy, ai cũng phải xúc động vì không biết bao nhiêu công khó của người đi trước đã đổ ra để mở mang nước Chúa, để khai sáng đạo Chúa khắp nơi. Xin cám ơn Chúa và xin tri ân những tiền bối đã hy sinh để Nam tiến và để giữ đạo và truyền đạo. Hãy nghĩ đến công ơn người đi trước để duy trì tinh thần mở mang đạo Chúa ở vùng sâu vùng xa.

Xin cho con làm việc nầy vì vinh danh Chúa và vì phần rỗi các linh hồn

Các tông đồ theo Chúa lúc đầu với ý hướng hoàn toàn trần tục: Để được chỗ nhất nhì trong nước Chúa, để được lời lãi nhiều ở đời nầy. Có lẽ một phần vì các Ngài xuất phát từ dân làng Betsaida, chuyên nghề đánh cá, đời sống kham khổ và bấp bênh “Thưa Thầy, chúng con thức trắng mắt suốt đêm mà chả bắt được gì…” Nên các ông lập tức bỏ chài lưới và cha già để theo Chúa để đổi đời, để có cuộc sống thoải mái hơn.

Ơn gọi linh mục có nhiều khi bắt đầu bằng ước vọng có danh thơm tiếng tốt và cuộc sống nhàn hạ thoải mái. Có Cha nói “Tôi mà không làm Cha thì bố tôi có bao giờ được gọi là Ông Cồ và được ngồi mâm trên…” Đây cũng là một lý do tại sao có nhiều ơn gọi ở các nước nghèo ở Á Châu và Phi Châu. Không dám nói xấu các anh em linh mục sang bắt Mỹ phục vụ. Chắc chắn có nhiệt tâm tông đồ truyền giáo, nhưng cũng có lương bỗng hậu hĩnh và đời sống khá hơn ở quê nhà.

Qua nhiều năm linh mục và những khó khăn cuộc đời đã trải qua. Tôi đi đến một tâm niệm: Tất cả là phù vân. Đời sống đơn giản, đạm bạc và luôn làm mọi việc vì vinh danh Chúa và vì phần rỗi các linh hồn. Hạnh phúc lắm với ý hướng nầy.